Ngôn ngữ:
TRANG CHỦ | LIÊN HỆ | SƠ ĐỒ WEBSITE
WEBLINK
Hình ảnh 1
Cống ngăn mặn
Hình ảnh 2
Hồ Dầu Tiếng
Công trình thủy lợi
THỐNG KÊ
Lượt truy cập: 2037094
 
 

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI MIỀN NAM

 
TRANG CHỦ » NGHIÊN CỨU KHOA HỌC »
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu đánh giá tác động của việc khai thác, phát triển vùng ngập đến dòng chảy lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trong những thập niên vừa qua, tại các vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long, hàng loạt các công trình thủy lợi như hệ thống kênh mương, bờ bao, cống bọng đã được xây dựng. Đến nay, công tác thủy lợi đã phần nào giải quyết được vấn đề cấp, tiêu nước, chống lũ đầu vụ cho khoảng 1,4-1,5 triệu ha lúa hai, ba vụ, tạo địa bàn định cư cho hàng triệu hộ dân, bảo vệ được một số khu vực cây ăn trái, khu dân cư tập trung…

     
1.         
Tổng quan diễn biến vùng ngập lũ

            Khoảng ba thập niên qua ĐBSCL đã có những bước phát triển vượt bậc đóng góp vào phát triển chung của đất nước. Các phát triển nói trên đã và đang tác động mạnh mẽ vào dòng chảy lũ ở Châu thổ sông Mekong nên việc nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện, góp phần khai thác một cách hiệu quả và bền vững tài nguyên nước là rất cần thiết.

           
Việc đánh giá các tác động được thực hiện thông qua công tác thu thập, xử lý và phân tích số liệu, mô phỏng dòng chảy bằng mô hình toán dòng chảy lũ châu thổ Mekong VRSAP cho hai dạng lũ điển hình là lũ trung bình năm 1999 để đánh giá tác động thường xuyên của mùa lũ và ngập lụt đến các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong mùa lũ; lũ lớn năm 2000 để đánh giá mức độ an toàn và khả năng đối phó với lũ lớn trong vùng ngập.

            Tiêu chí để lựa chọn các thời điểm mô phỏng là: (1) Bắt đầu hoặc kết thúc một giai đoạn phát triển hoặc điều chỉnh phát triển và (2) Có tài liệu đo đạc tương đối đồng bộ tạo điều kiện cho việc phân tích đánh giá. Căn cứ vào tình hình thực tế ĐBSCL đề tài đã lựa chọn 6 thời điểm: Năm 1972, 1991, 1996, 2000, 2005 và 2010.
       
            Mốc thời gian ban đầu dùng làm so sánh là năm 1972, được xem như là thời điểm chưa có phát triển trong vùng ngập. Tiếp đó là năm 1991, năm bắt đầu xây dựng các công trình để khai thác trong mùa lũ. Kế đến là năm 1996, năm có các số liệu đo đạc địa hình và thủy văn tương đối đầy đủ, đồng bộ; năm có thể xem như ĐBSCL bắt đầu bước vào một giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, rộng hơn về nhiều mặt. Năm 2000, năm xảy ra trận lũ lịch sử, năm ĐBSCL đã thực hiện được một số công việc quan trọng theo phương châm “chung sống với lũ”. Năm 2005 năm có số liệu đo đạc cập nhật đồng thời bước đầu thực hiện điều chỉnh kế hoạch phát triển vùng ngập trên cơ sở tiếp tục phương châm “chung sống với lũ” với những vấn đề mới, những kinh nghiệm mới thu được sau trận lũ lịch sữ năm 2000 gây nhiều thiệt hại cho vùng ngập ỡ ĐBSCL; và cuối cùng là dự kiến năm 2010 năm được xem là hoàn thành về cơ bản các công trình hạ tầng giao thông, cụm tuyến dân cư theo Quyết định 99-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển vùng ngập vùng ĐBSCL.
  • Có thể mô tả tóm tắt tình hình năm 1972 như sau: Vùng ngập chưa có phát triển đáng kề, phần lớn đất đai trong vùng ngập lũ trung bình và ngập nặng vẫn còn hoang hóa, hoặc khai thác lúa nổi tự nhiên trong mùa lũ. Hệ thống kênh rạch chưa phát triển, chủ yếu phục vụ yêu cầu giao thông. Phía ĐTM chỉ có kênh Cái Cỏ-Long Khốt, kênh Đồng Tiến-Lagrange, kênh Nguyễn Văn Tiếp; kênh Phước Xuyên; phía TGLX chỉ có kênh Vĩnh Tế, kênh Tri Tôn, Ba Thê, Mạc Cần Dưng, Rạch Giá Long Xuyên, Cái Sắn và Rạch Giá Hà Tiên. Mặt đệm bị phủ bởi cỏ dại, rừng ngập nước hoặc lúa nổi cản trở rất nhiều đến việc thoát lũ, dân cư thư thớt, tập trung chủ yếu ở các vùng đất cao ven sông.
  • Năm 1991, công cuộc khai thác trong mùa lũ bắt đầu được thực hiện, một số bờ bao thấp ngăn lũ tháng 8 được xây dựng, diện tích lúa Hè-Thu tăng nhanh, bắt đầu có một số diện tích lúa vụ ba trong vùng ngập nông. Dòng tràn it nhiều dã bị cản trở. Thời điểm này có thể xem là thời điểm bắt đầu khai thác vùng ngập trong mùa lũ.
  • Năm 1996, công cuộc khai thác phát triển vùng lũ được tiếp tục và đẩy nhanh tốc độ, diện tích lúa Hè-Thu có khả năng chịu ảnh hưởng của lũ đầu vụ đã tương đối ổn định, hệ thống công trình bờ bao bảo vệ lúa Hè-Thu mới đuợc hình thành tự phát chưa đủ cao trình thiết kế, chưa vững chắc và hầu hết bị tràn vỡ khi xảy ra lũ lớn. Hệ thống đường giao thông trong vùng ngập mới được định hình, xây dựng từng đoạn, từng tuyến chưa liên tục, cao trình thấp, độ vững chắc kém, bị tràn vỡ nhiều. Hệ thống cụm tuyến đê bao và đường giao thông nông thôn hầu như chưa đáng kể, hệ thống bờ bao trong vùng lũ bị tràn vỡ hư hỏng nhiều.
  • Đến năm 2000, năm xảy ra trận lũ lớn nhất trong khoảng 40-50 năm qua ở ĐBSCL, tình hình đã có khá nhiều thay đồi, các hoạt động khai thác phát triển vùng ngập theo phương châm chung sống với lũ được đẩy mạnh và một số hạng mục công trình đã được xây dựng và đi vào hoạt động. Ở Tứ giác Long Xuyên dòng tràn qua biên giới Việt Nam-Campuchia qua bảy cầu trên đường Châu Đốc-Tịnh Biên đã được hạn chế và điều chỉnh lại qua hệ thống đập Trà Sư, Tha La; các kênh rạch trong vùng Tứ giác Hà Tiên đã được xây dựng có khả năng tải và thoát một lượng đáng kể lũ qua khu vực này. Hê thống cống trên đê Biển Tây đã được xây dựng hầu hết. Đường Mạc Cần Dưng được đắp cao vượt lũ, hệ thống bờ bao, đường giao thông nông thôn phát triển khá mạnh tuy cao trình còn thấp và chưa vững chắc và có thể bị tràn vỡ trong mùa lũ. Đường Lộ Tẻ-Châu Đốc được nâng cấp một bước chỉ còn lại một vài đoạn thấp bị tràn lũ khoảng dưới 0,5 m. Ở Đồng Tháp Mười, đường Hồng Ngự-Tân Hồng được đắp cao vuợt lũ không bị tràn vỡ nhiều như năm 1996. Đường Tân Hồng-Vĩnh Hưng cũng được đắp cao, chỉ tràn vỡ một đoạn khoảng 200 m trong khu vực đang thi công. Quốc lộ 62 Tân An-Vĩnh Hưng đã được mở rộng và đắp cao nhiều hơn so với năm 1996 tuy có một số đoạn bị ngập đến 0.6 m. Quốc lộ 1A Tân An-Mỹ Thuận đã được nâng cấp không bị tràn. Đường Thanh Bình-Tràm Chim, đường Kiên Bình-Mỹ An, đường Mỹ An-Cao Lãnh, đường Hồng Ngự-Tân Châu cũng đã được hình thành, xe cộ qua lại dễ dàng hơn khi chưa có lũ tuy hầu hết bị tràn và một số đoạn bị vỡ nhưng đã ảnh hưởng đáng kể đến dòng chảy lũ. Diện tích lúa Hè-Thu được mỡ rộng thêm. Tại các vùng ngập nông diện tích lúa vụ ba liên tục được mở rộng và gần như đạt đến diện tích cao nhất trong những năm gần đây. Phía Long An rừng tràm phát triển nhanh và lớn hơn nhiều so với năm 1996 làm cản trỡ đáng kể đến dòng chảy lũ. Kênh Tân Thành-Lò Gạch, kênh Hồng Ngự, và nhiều kênh rạch nội đồng khác được xây dựng, nạo vét và mở rộng làm khả năng tải và thoát lũ cao hơn. Có thể nói so với năm 1996 dòng lũ đã bị ảnh hưởng đáng kể.
  • Đến năm 2005 vùng ngập có nhiều phát triển với qui mô lớn và tốc độ nhanh. Hệ thống khoảng gần 1.000 cụm tuyến dân cư về cơ bản đã hoàn thành. Nhiều tuyến đường được sửa chữa nâng cấp cải tạo và làm mới sau lũ 2000. Ở TGLX, đường Lộ Tẻ-Châu Đốc tiếp tục được nâng cấp mở rộng, đắp cao vượt lũ. Đường Tịnh Biên-Hà Tiên đang được xây dựng, tôn cao. Đường Tri Tôn-Rạch Giá dọc kênh Tám Ngàn được làm mới. Đường Lộ Tẻ-Rạch Giá-Hà Tiên được nâng cấp. Hệ thống kênh cống Bình Giang 1, Bình Giang 2 được bổ sung thêm vào vệ thống thoát lũ ven Biển Tây. Các kênh Tám Ngàn, T3, T5, T6 được nạo vét mỡ rộng, nhiều đoạn kênh nối giữa kênh Rạch Giá-Hà Tiên với Biển Tây cũng được nạo vét làm tăng khả năng thoát lũ đầu vụ tuy bờ bao các vuông nuôi tôm ít nhiều cũng làm giảm dòng tràn và khả năng thoát lũ. Phong trào giao thông nông thôn phát triển rất mạnh nhất là ở khu vực phía Tây-Nam. Đã và đang có xu hướng hình thành các tuyến đường liên tuyến, liên khu dân cư vượt lũ. Ở ĐTM, các tuyến đường đã hình thành bị hư hại, tràn vỡ sau lũ 2000 được sửa chữa nâng cấp. Đến năm 2005 về cơ bản đường Tân An-Vĩnh Hưng, Đường Hồng Ngự-Tân Hồng-Vĩnh Hưng, đường Vĩnh Hưng-Tân Hưng, đường Quốc lộ 1 Tân An-Mỹ Thuận, đường quốc lộ 30 Mỹ Thuận-Cao Lãnh-Hồng Ngự. Đường Hồng Ngự-Tân Châu, đường Thanh Bình-Tràm Chim-Tân Hồng, đường Kiên Bình Mỹ An, đường Mỹ An-Cao Lãnh đã được đắp cao vượt lũ, tương đối vững chắc, ít có khả năng bị tràn vỡ trong mùa lũ. Các tuyến đường bờ kênh Nam Hồng Ngự, một số đoạn nam kênh Đồng Tiến, Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp đã được tôn cao, gia cố vững chắc hơn để đáp ứng yêu cầu giao thông và góp phần bảo vệ lúa Hè-Thu, lúa vụ ba và vùng cây ăn trái nam kênh Nguyễn Văn Tiếp. Một số bờ bao và một số vùng cây ăn trái đã có khả năng ngăn lũ cả năm. Thêm vào đó hàng trăm cụm tuyến dân cư đã được xây dựng và đang đưa dân vào sinh sống tạo ra nhu cầu hình thành nên các tuyến đường liên tuyến, liên cụm dân cư vượt lũ. Phong trào làm đường giao thông nông thôn phát triển rất mạnh nhất là ỡ các vùng ngập nông thuộc tỉnh Tiền Giang, Long An. Diện tích lúa vụ ba được mỡ rộng, đang hình thành một số ô bao ngăn lũ cả năm qui mô từ vài trăm đến 3.000-5.000 ha. Các kênh rạch được nạo vét sau lũ, hệ thống bờ bao được sửa chữa, gia cố. Bên cạnh đó hệ thống kênh trục, kênh cấp 2 và nội đồng tiếp tục được đầu tư xây dựng như kênh Cái Cỏ-Long Khốt, kênh Tân Thành-Lò Gạch, Kênh 79, kênh Phước Xuyên, kênh 28, kênh Cái Bèo, kênh 307, một số kênh khác như Tân Công Chí, Đường Thét-Cần Lố, Đồng Tiến-Lagrange, các kênh thoát lũ nam Nguyễn Văn Tiếp đang được nghiên cứu và đề nghị đầu tư xây dựng. Nhiều tuyến đường mới như đường N2 đoạn Tuyên Nhơn-Mỹ An-Cao Lãnh, đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Cần Thơ đang được thi công.
  • Cuối cùng là thời điểm năm 2010, dự kiến hoàn thành về cơ bản các tuyến đường giao thông, cụm tuyến dân cư trong vùng ngập theo phương châm chung sống với lũ. Trong vùng ngập sẽ có gần 1000 cụm tuyến dân cư, hàng chục con tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên tỉnh lộ vuợt lũ tạo điều kiện tốt hơn cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt trong mùa lũ.
                  
2.         Các trường hợp mô phỏng lũ
                
            Đề tài đã mô phỏng 6 trường hợp với 2 tình huống lũ: lũ trung bình tương tự như lũ 1999; lũ lịch sử tương tự như lũ 2000 như sau:
  • Trường hợp 1 (TH1): Chưa phát triển trong vùng ngập, địa hình trước năm 1975, lấy theo tài liệu mặt đệm năm 1972 trong nghiên cứu của đoàn chuyên gia Hà Lan 1974;
  • Trường hợp 2 (TH2): Đã khai khẩn, phát triển vùng ngập nhưng chưa có bờ bao ngăn lũ, thời điểm năm 1991;
  • Trường hợp 3 (TH3): Địa hình năm 1996, năm được xem như năm khởi đầu phát triển vùng ngập theo phương trâm chung sống với lũ;
  • Trường hợp 4 (TH4): Địa hình năm 2000, năm xảy ra trận lũ lịch sữ trong vòng 40-50 năm qua, đã xây dựng được một số công trình kiểm soát lụ theo phương trâm chung sống với lũ và bắt đầu bổ sung, điều chỉnh quy hoạch lũ sau những kinh nghiệm thu được sau lũ 2000;
  • Trường hợp 5 (TH5): Địa hình năm 2005, năm có số liệu cập nhật mới nhất;
  • Trường hợp 6 (TH6): Địa hình dự kiến theo sau khi đã xây dựng các công trình giao thông quan trọng trong vùng lũ theo định hướng chung sống với lũ theo quyết định 99TTg của Thủ tướng Chính Phủ.
            Tổng cộng có 12 trường hợp tính toán, được phân theo hai tình huống lũ là lũ trung bình 1999 và lũ lịch sử năm 2000.
            Trường hợp 1 được chọn là trường hợp khởi điểm để so sánh tác động của các phát triển đến dòng chảy lũ trong vùng ngập.
            Để tiện cho việc theo dõi và xác định tác động của các phát triển, vùng ngập được chia thành 13 tiểu vùng như sau:
+ Tiểu vùng 1, ký hiệu là CPC1 là vùng ngập giới hạn bởi sông Mekong, đường QL15 và đường Svay Rieng-Neak Luong trên đất Campuchia;
+ Tiểu vùng 2, ký hiệu là CPC2 là vùng ngập giới hạn bởi đường Svay Rieng-Neak Luong, sông Mekong, rạch Cái Cỏ Long Khốt;
+ Tiểu vùng 3, ký hiệu là CPC3 giới hạm bởi sông Mekong, sông Tonle Sap và đường Prek Dam-Kompong Cham trên đất Campuchia;
+ Tiểu vùng 4, ký hiệu là CPC4 giới hạn bởi sông Bassac, đường Prek Dam-Takeo, kênh Vĩnh Tế-Giang Thành trên đất Campuchia;
+ Tiểu vùng 5, ký hiệu là ĐTM1, nằm từ kênh Tân Thành-Lò Gạch đến rạch Cái Cỏ-Long Khốt trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Tiểu vùng 6, ký hiệu là ĐTM2, giới hạn bởi sông Tiền, sông Vàm Cỏ Tây, kênh Cái Cỏ-Long Khốt và kênh Nguyễn Văn Tiếp;
+ Tiểu vùng 7, ký hiệu là ĐTM3, giới hạn bởi sông Tiền, kênh Nguyễn Văn Tiếp, sông Vàm Cỏ Tây và kênh Chợ Gạo trên đất Việt Nam;
+ Tiểu vùng 8, ký hiệu là TGXL1, giới hạn bởi sông Hậu, đường Châu Đốc-Tịnh Biên, kênh Cái Sắn, Biển Tây và kênh Tám Ngàn;
+ Tiểu vùng 9, ký hiệu là TGLX2, giới hạn bởi kênh Vĩnh Tế-sông Giang Thành, kênh Ba Chúc, kênh Tám Ngàn, và Biển Tây;
+ Tiểu vùng 10, ký hiệu là TSH, giới hạn bởi sông Hậu, kênh Cái Sắn, rạch Cái Côn và rạch Xẻo Chít;
+ Tiểu vùng 11, ký hiệu là CPC5, giới hạn bởi sông Mekong, sông Bassac trên đất Campuchia;
+ Tiểu vùng 12, ký hiệu là GSTSH, nằm trong khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu trên đất Việt Nam;
+ Tiểu vùng 13, ký hiệu là GVCDVCT, nằm giữa sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây trên đất Việt Nam.
 
            Từ kết quả mô phỏng có thể rút ra một số nhận xét như sau (dựa theo địa hình năm 2000):
            Trong tình huống xảy ra lũ lớn như lũ 2000, mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 1 có thể đạt từ 4,93-13,31 m, độ sâu ngập từ 2,5-4,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 2 có thể đạt từ 3,27-7,73 m, độ sâu ngập từ 2,5-3,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 3 có thể đạt 9,97-13,75 m, độ sâu ngập từ 2,5-4,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 4 có thể đạt từ 1,38-10,30 m, độ sâu ngập từ 2,0-3,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 5 có thể đạt từ 4,36-5,97 m, độ sâu ngập từ 2,5-3,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 6 có thể đạt từ 1,72-5,18 m, độ sâu ngập từ 1,3-3,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 7 có thể đạt từ 1,46-3,62 m, độ sâu ngập từ 0,8-2,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 8 có thể đạt 1,05-5,15 m, độ sâu ngập từ 0,5-3,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 9 có thể đạt từ 1,05-3,27 m, độ sâu ngập có thể đạt từ 0,7-2,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 10 có thể đạt từ 0,97-2,62 m, độ sâu ngập từ 0,6-1,8 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 11 có thể đạt 6,53-9,81 m; độ sâu ngập từ 2,5-3,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 12 có thể đạt 1,87-6,41 m; độ sâu ngập từ 1,1-3,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 13 có thể đạt từ 1,59-4,32 m; độ sâu ngập từ 1,0-2,5 m.
            Lưu lượng lớn nhất qua Tân Châu có thể đạt trên 26.000 m3/s, qua Châu Đốc trên 7.600 m3/s; qua Tân An trên 3.500 m3/s, qua Bến Lức trên 3.700 m3/s. Lưu lượng lớn nhất qua đường Svay Rieng-Neak Luong có thể đạt đến 8.000 m3/s; qua tuyến Tân Thành-Lò Gạch trên 10.000 m3/s, qua bờ nam kênh Nguyễn Văn Tiếp trên 6.000 m3/s; qua Quốc lộ 1 đoạn Tân An-Mỹ Thuận đạt trên 3.500 m3/s; qua Quốc lộ 30 đoạn Mỹ Thuận-An Long đạt trên 3.000 m3/s. Lưu lượng lớn nhất qua đường Châu Đốc-Tịnh Biên khoảng 800 m3/s; qua cầu Xuân Tô, cầu cạn Công Binh trên 1.500 m3/s; qua đường Rạch Giá-Hà Tiên trên 4.500 m3/s; qua bờ Nam kênh Cái Sắn trên 1.000 m3/s.
            Trong tình huống xảy ra lũ trung bình như lũ 1999, mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 1 có thể đạt từ 3,19-12,37 m, độ sâu ngập từ 1,5-3,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 2 có thể đạt từ 2,33-6,42 m, độ sâu ngập từ 0,5-2,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 3 có thể đạt 7,53-12,35 m, độ sâu ngập từ 2,0-3,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 4 có thể đạt từ 1,02-8,87 m, độ sâu ngập từ 0,5-3,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 5 có thể đạt từ 2,95-5,00 m, độ sâu ngập từ 1,4-2,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 6 có thể đạt từ 1,32-4,18 m, độ sâu ngập từ 0,6-2,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 7 có thể đạt từ 1,28-2,69 m, độ sâu ngập từ 0,7-1,1 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 8 có thể đạt 0,98-4,17 m, độ sâu ngập từ 0,5-2,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 9 có thể đạt từ 0,95-2,64 m, độ sâu ngập có thể đạt từ 0,6-1,5 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 10 có thể đạt từ 0,85-2,28 m, độ sâu ngập từ 0,55-1,20 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 11 có thể đạt từ 5,37-8,48 m; độ sâu ngập từ 1,8-3,0 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 12 có thể đạt từ 1,87-5,35 m; độ sâu ngập từ 1,2-2,8 m. Mực nước lớn nhất trong Tiểu vùng 13 có thể đạt từ 1,45-2,89 m; độ sâu ngập từ 0,8-1,5 m.
            Lưu lượng lớn nhất qua Tân Châu có thể đạt trên 22.000 m3/s, qua Châu Đốc đạt trên 6.400 m3/s; qua Tân An trên 2.800 m3/s và qua Bến Lức trên 3.200 m3/s. Lưu lượng lớn nhất qua đường Svay Rieng-Neak Luong có thể đạt đến 4.000 m3/s; qua tuyến Tân Thành-Lò Gạch trên 4.500 m3/s, qua bờ nam kênh Nguyễn Văn Tiếp trên 2.900 m3/s. qua quốc lộ 1 đoạn Tân An-Mỹ Thuận đạt trên 3.500 m3/s; qua quốc lộ 30 đoạn Mỹ Thuận-An Long đạt trên 1.800 m3/s. Lưu lượng lớn nhất qua đường Châu Đốc-Tịnh Biên khoảng 500 m3/s; qua cầu Xuân Tô, cầu cạn Công Binh trên 800 m3/s; qua đường Rạch Giá-Hà Tiên trên 2.600 m3/s; qua bờ Nam kênh Cái Sắn trên 9.00 m3/s.
            Từ kết quả mô phỏng bước đầu có thể rút ra một số nhận xét như sau:
            Việc khai phá phát triển vùng ngập đã làm cho mặt đệm hạ lưu trở nên thông thoáng hơn, khả năng tải lũ lớn hơn, lũ về nhiều và nhanh hơn. Trong trường hợp xảyra lũ lớn tương tự như lũ 2000, mực nước ở phía Bắc rạch Cái Cỏ-Long khốt (Tiểu vùng CPC-2) có thể giảm trung bình được 13 cm; nhiều nhất là 64 cm. Mực nước lớn nhất phía Bắc kênh Vĩnh Tế (Tiểu vùng CPC-4) giảm bình quân 11 cm, nhiều nhất là 51 cm. Mực nước lớn nhất từ kênh Đồng Tiến đến kênh Tân Thành-Lò Gạch (Tiểu vùng ĐTM-2) giảm bình quân được 1 cm; nhiều nhất là 21 cm. Mực nước lớn nhất từ kênh Cái Sắn đến kênh Vĩnh Tế (Tiểu vùng TGLX-1) giảm bình quân được 9 cm; nhiều nhất là 70 cm.
            Trong trường hợp xảy ra lũ trung bình như lũ 1999, mực nước ở phía Bắc rạch Cái Cỏ-Long Khốt (Tiểu vùng CPC-2) giảm trung bình được 7 cm; nhiều nhất là 33 cm. Mực nước lớn nhất phía Bắc kênh Vĩnh Tế (Tiểu vùng CPC-4) giảm bình quân 6 cm, nhiều nhất là 28 cm. Mực nước lớn nhất từ kênh Đồng Tiến đến kênh Tân Thành-Lò Gạch (Tiểu vùng ĐTM-2) tăng bình quân được 2 cm; nhiều nhất là 18 cm. Mực nước lớn nhất từ kênh Cái Sắn đến kênh Vĩnh Tế (Tiểu vùng TGLX-1) giảm bình quân được 7 cm; nhiều nhất là 51 cm.
            Việc xây dựng hệ thống bờ bao bảo vệ sản xuất lúa và hệ thống đường giao thông trong vùng lũ phần nào cản trở đến dòng chảy lũ, giảm khả năng tải lũ, hạn chế lũ về và làm gia tăng nhực nước trong vùng ngập. Trong trường hợp xảy ra lũ lớn tương tự như lũ 2000 với điều kiện địa hình năm 2005, mực nước ở phía bắc rạch Cái Cỏ-Long khốt (Tiểu vùng CPC-2) chỉ còn giảm trung bình được 2 cm; nhiều nhất là 32 cm. Mực nước lớn nhất phía Bắc kênh Vĩnh Tế (Tiểu vùng CPC-4) tăng bình quân 2 cm, nhiều nhất là 22 cm. Mực nước lớn nhất từ kênh Đồng Tiến đến kênh Tân Thành-Lò Gạch (Tiểu vùng ĐTM-2) tăng bình quân được 13 cm; nhiều nhất là 83 cm. Mực nước lớn nhất từ kênh Cái Sắn đến kênh Vĩnh Tế (Tiểu vùng TGLX-1) giảm bình quân được 12 cm; nhiều nhất là 37 cm.
            Trong trường hợp xảy ra lũ trung bình như lũ 1999, mực nước ở phía Bắc rạch Cái Cỏ-Long khốt (Tiểu vùng CPC-2) chỉ còn giảm trung bình được 3 cm; nhiều nhất là 9 cm. Mực nước lớn nhất phía Bắc kênh Vĩnh Tế (Tiểu vùng CPC-4) giảm bình quân 0 cm, nhiều nhất là 19 cm. Mực nước lớn nhất từ kênh Đồng Tiến đến kênh Tân Thành-Lò Gạch (Tiểu vùng ĐTM-2) tăng bình quân được 7 cm; nhiều nhất là 45 cm. Mực nước lớn nhất từ kênh Cái Sắn đến kênh Vĩnh Tế (Tiểu vùng TGLX-1) giảm bình quân được 8 cm; nhiều nhất là 32 cm.
            Các cầu trên các tuyến đường cắt ngang vùng lũ bị xói lở mạnh. Trên đường N1, bờ Nam kênh Tân Thành-Lò Gạch đoạn Hồng Ngự-Phước Xuyên tổng diện tích mặt cắt thoát lũ mùa lũ năm 1996 chỉ có khoảng 1.920 m2, tràn vỡ 1.900 m2. Đến năm 2000 tổng diện tích mặt cắt cầu đã lên đến 6.900 m2 tăng hơn hai lần so với năm 1996, làm tăng lượng lũ tràn về hạ lưu và mực nuớc vùng ngập sau kênh Tân Thành-Lò Gạch.
            Các kết quả đo đạc và mô phỏng cho thấy từ năm 1996 đến nay dòng tràn đã giảm đáng kể. Năm 1996 diện tích mắt cắt tràn lũ trên tuyến đường Nam kênh Tân Thành-Lò Gạch giảm từ 1.900 m2 năm 1996 xuống còn dưới 100 m2 năm 2000 và hầu như không đáng kể năm 2005. Trong khi đó dòng chảy qua các cầu tăng lên rất nhanh: năm 1996 diện tích mặt cắt thoát lũ qua các cầu trên đường bờ Nam kênh Tân Thành-Lò Gạch tăng từ 1.900 m2 năm 1996 lên 6.900 m2 năm 2000 và ổn định ở mức này cho đến năm 2005. Lưu lượng chảy qua các cầu tăng từ 3000 m3/s năm 1996 lên 7000 m3/s năm 2000.
            Dòng lũ đã có sự phân bố lại theo hướng có lợi cho việc lấy phù sa và cải tạo đồng ruộng. Lượng lũ tràn biên giới mấy năm gần đây giảm được một phần, lượng lũ vào từ sông Tiền, sông Hậu tăng lên, nước lũ chuyển về các vùng phèn, vùng đất mới được khai thác như TGHT, Bo Bo, Bắc Đông nhiều hơn và sớm hơn, có tác dụng tích cực trong việc cải thiện môi trường đất và nước.
            Xét về tác động đến dòng chảy lũ, các tác động nói trên có thể chia thành hai nhóm: (1) Nhóm tác động tích cực (giảm độ ngập, điều hòa, phân bố dòng chảy theo hướng có lợi) và (2) Nhóm tác động tiêu cực (gia tăng độ ngập, tập trung dòng chảy, cản trở dòng chảy và giảm lưu thông nước trong vùng ngập). Các hoạt động mở kênh, mở rộng cầu, cửa thoát lũ, đào thêm các kênh mới dẫn nước lũ, phù sa về cải tạo các vùng đất phèn ở TGHT, Bo Bo, Bắc Đông, Chợ Bưng thuộc nhóm thứ nhất. Các hoạt động mở rộng diện tích lúa vụ ba, xây dựng các bờ bao, cụm tuyến dân cư, các tuyến đường giao thông thuộc nhóm thứ hai.
            Có thể nói các phát triển nói trên tuy có nhiều tác động đến dòng chảy lũ nhưng cần thiết và hợp qui luật. Điều đáng mừng là nhận thức về phát triển bền vững vùng ngập ngập trong phát triển và cộng đồng ngày càng được nâng cao, từng bước được cụ thể hoá và thực hiện tương đối nghiêm túc từ qui hoạch phát triển, thiết kế thi công và quản lý vận hành cộng với các giải pháp giảm nhẹ, điều tiết, điều chỉnh sáng tạo có cân nhắc nên đã giảm đáng kể các tác động tiêu cực và lợi dụng được một số tác động tích cực của dòng lũ và mùa lũ.
Ks. Trần Đức Đông
Phòng Tổng hợp-Kỹ thuật
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Ứng dụng MIKE 11 đánh giá chất lượng nước lưu vực sông Đồng Nai (22/08/09)
Dự báo lũ dựa trên tính toán truyền sóng động học của các thành phần nguồn lũ cho vùng Tứ giác Long Xuyên (22/08/09)
Nghiên cứu nhận dạng toàn diện về lũ, dự báo, kiểm soát và thoát lũ phục vụ yêu cầu chung sống với lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long (22/08/09)
VIDEO

Get the Flash Player to see this player.

TIN TỨC- SỰ KIỆN
Sản phẩm tiêu biểu
Đập thủy điện
Sản Phẩm Mới
Kênh xả Tân Chi
TRANG CHỦ | GIỚI THIỆU | TIN TỨC- SỰ KIỆN | VĂN BẢN PHÁP QUY | THIẾT KẾ QUY HOẠCH | NGHIÊN CỨU KHOA HỌC | HỢP TÁC QUỐC TẾ | KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ | QUẢN LÝ LƯU VỰC SÔNG | DỰ BÁO LŨ ĐBSCL 2014 | HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ | LIÊN HỆ | SƠ ĐỒ WEBSITE
© Copyright 2008 Fpt Telecom. All rights reserved.